Tiếng việt English

Toàn cảnh nghề kiểm toán độc lập hiện nay

( 25-07-2014 - 11:26 AM ) - Lượt xem: 35938

Từ khi ra đời 5/1991 đến 2011, KTĐL hoạt động theo các Nghị định của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính. Năm 2011, Quốc hội công bố Luật KTĐL có hiệu lực từ 01/01/2012, đến nay (7/2014), Chính phủ và Bộ Tài chính đã ban hành gần như đầy đủ, đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật về KTĐL, gồm

  1. Hệ thống văn bản pháp luật về KTĐL đã đầy đủ, đồng bộ nhất từ trước tới nay

Từ khi ra đời 5/1991 đến 2011, KTĐL hoạt động theo các Nghị định của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính. Năm 2011, Quốc hội công bố Luật KTĐL có hiệu lực từ 01/01/2012, đến nay (7/2014), Chính phủ và Bộ Tài chính đã ban hành gần như đầy đủ, đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật về KTĐL, gồm: 02 Nghị định (NĐ 17/2012/NĐ-CP, NĐ105/2013/NĐ-CP) và 07 Thông tư (TT 129-2012/TT-BTC, 150-2012/TT-BTC, 202-2012/TT-BTC, 203-2012/TT-BTC, 214-2012/TT-BTC, 78-2013/TT-BTC và 183-2013/TT-BTC) đã quy định và hướng dẫn gần như tất cả các mặt hoạt động từ quản lý Nhà nước đến phương pháp nghiệp vụ, kỹ thuật kiểm toán và các dịch vụ đảm bảo có liên quan.

Tuy nhiên đến nay, thời gian có hiệu lực của văn bản chưa đủ dài để tuân thủ đầy đủ các văn bản và đánh giá tác động của pháp luật tới thực tế hoạt động KTĐL, nhất là chất lượng dịch vụ cung cấp.

  1. Số lượng công ty kiểm toán tăng, giảm nhẹ, hiện tại được cơ cấu lại theo hướng tăng quy mô doanh nghiệp, tăng số lượng KTV hành nghề, trở thành thành viên Hãng quốc tế, được vào danh sách đủ điều kiện kiểm toán niêm yết

Năm 2010 là năm đỉnh cao Việt Nam có 170 công ty kiểm toán, trong đó có 152 công ty đủ điều kiện hành nghề kiểm toán với số lượng nhân viên bình quân là 57 người/1 công ty. Năm 2011 vẫn có 152 công ty với số lượng nhân viên bình quân là 56 người. Năm 2012 tăng lên 155 công ty với số lượng nhân viên bình quân là 65 người, đặc biệt năm 2013 số lượng công ty giảm mạnh, chỉ còn 134 công ty (giảm 14%) nhưng số lượng nhân viên bình quân là 78 người, tăng lên 20% so với năm 2012.

Số lượng KTV hành nghề năm 2010 tăng 12% so với năm 2009, năm 2011 tăng 14%, 2012 giảm 5% so với năm trước tương ứng. Tuy nhiên, KTV năm 2013 lại tăng 12% so với năm 2012. Năm 2012 giảm có thể do năm đầu tiên thực hiện Luật KTĐL điều kiện đăng ký hành nghề đã chặt hơn, hoặc có KTV đủ điều kiện hành nghề nhưng làm việc trong công ty kiểm toán không đủ điều kiện hành nghề kiểm toán nên không có trong số liệu báo cáo.

Về công ty kiểm toán được công nhận là thành viên Hãng quốc tế cũng tăng nhẹ, năm 2010 và 2011 có 27 công ty, năm 2012 tăng 4%, năm 2013 tăng 11% so với năm trước tương ứng. Các Hãng quốc tế lớn (là các Hãng phải có văn phòng ở các nước khác) đã vào Việt Nam, các Hãng còn lại hầu như là nhỏ hoặc không đủ lớn, không đủ uy tín hấp dẫn công ty kiểm toán Việt Nam gia nhập.

Về công ty kiểm toán đủ điều kiện kiểm toán niêm yết, năm 2010 có 31 công ty, giảm 9% so với năm 2009, năm 2011 có 43 công ty, tăng 39%; năm 2012 và 2013 đều có 43 công ty, không tăng giảm so với năm 2011. Đây là kết quả do cơ cấu lại, một số công ty trung bình có xu hướng sáp nhập để đủ quy mô đạt tiêu chuẩn, điều kiện kiểm toán niêm yết.

  1. Trong hoàn cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, ngành KTĐL vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng về doanh thu và tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng về khách hàng, giá phí khách hàng có tăng, có giảm nhưng bình quân chung vẫn là tăng

Nếu tổng doanh thu toàn ngành KTĐL năm 2010 là 2.744 tỷ, tăng 25% so với năm 2009, năm 2011 tăng 11%, 2012 tăng 23% và năm 2013 tăng 11% so với năm trước tương ứng. Trong khi số lượng khách hàng (hợp đồng) năm 2010 là 29.023, tăng 12% so với năm 2009, năm 2011 tăng 7%, năm 2012 tăng 0% và năm 2013 tăng 8% so với năm trước tương ứng. Như vậy tốc độ tăng doanh thu vẫn nhanh hơn tốc độ tăng khách hàng, vì giá phí bình quân trên một hợp đồng cũng tăng khá. Năm 2010 bình quân là 95 triệu đồng/hợp đồng, tăng 12% so với năm 2009, năm 2011 tiếp tục tăng 3%, 2012 tăng 23% và năm 2013 tăng 3% so với năm trước tương ứng.

  1.  Năm 2013 khách hàng và doanh thu có xu hướng tập trung vào các công ty kiểm toán lớn, nhất là Big 4 chiếm 58% doanh thu (tăng 12% so với năm 2012) và tập trung 10 công ty lớn nhất chiếm 69% hoặc tập trung doanh thu vào 43 doanh nghiệp đủ điều kiện kiểm toán niêm yết, chiếm 85% doanh thu

Trong khi tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân của ngành là 11% thì Big4 tăng 12% trong đó 2 công ty tăng 16%. Năm 2012 Big4 chiếm 57% doanh thu toàn ngành, năm 2013 chiếm 58% (tăng 1%). 130 công ty Việt Nam chỉ chiếm 42%…

Ngoài Big4, nếu chỉ tính 10 công ty lớn nhất đã chiếm 69%, 124 công ty còn lại chỉ chiếm 31% doanh thu.

Trong khi doanh thu bình quân một công ty kiểm toán năm 2013 là 31 tỷ đồng/năm, bình quân của Big4 là 599 tỷ đồng, còn lại 130 công ty Việt Nam bình quân chỉ 14 tỷ/năm.

  1. Các doanh nghiệp kiểm toán Việt, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã khó khăn, nay có xu hướng càng khó khăn hơn

Năm 2014 là năm đầu tiên thực hiện đầy đủ luật KTĐL về điều kiện đăng ký hành nghề kiểm toán (công ty kiểm toán phải có 5 KTV hành nghề, 3 tỷ đồng vốn pháp định…) đã làm rơi rụng 10 công ty kiểm toán nhỏ có KTV đủ điều kiện hành nghề nhưng chưa đủ 5 người, và 12 công ty không có KTV nào đủ điều kiện hành nghề kiểm toán.

Năm 2013 có 91 công ty kiểm toán vừa và nhỏ nhưng chỉ đạt tổng doanh thu là 642 tỷ đồng (chiếm 15%). Giá phí bình quân một khách hàng rất thấp (bình quân 49 triệu đồng/khách hàng). Theo đó chất lượng dịch vụ khó có thể cao được, trong khi giá phí bình quân một khách hàng của Big4 là 360 triệu đồng. Doanh thu bình quân một nhân viên công ty kiểm toán vừa và nhỏ là 261 triệu/người/năm, trong khi Big4 là 892 triệu đồng/một nhân viên.

Các công ty kiểm toán Việt có quy mô khá, đạt tiêu chuẩn, điều kiện kiểm toán doanh nghiệp niêm yết (vốn 4 tỷ, có 10 KTV hành nghề trên 24 tháng, có 150 khách hàng kiểm toán BCTC, trong đó có 10 khách hàng niêm yết) cũng đang gặp vạn khó khăn trước yêu cầu mới, phải có đủ 6 tỷ đồng (tăng 50 %), có 15 KTV hành nghề (tăng 50%), có 300 khách hàng kiểm toán BCTC (tăng 200%), trong đó có 20 KTV niêm yết (tăng 100%)… trước 20/10/2015 (Thời hạn cuối cùng nộp hồ sơ đăng ký thực hiện kiểm toán khách hàng niêm yết).

Các công ty kiểm toán Việt có quy mô vừa đạt tiêu chuẩn, điều kiện kiểm toán đơn vị có lợi ích công chúng (vốn 4 tỷ, có 7 KTV hành nghề trên 24 tháng, có 100 khách hàng kiểm toán BCTC, trong đó có 5 khách hàng là đơn vị có lợi ích công chúng) cũng gặp vạn khó khăn tương tự: phải có đủ 6 tỷ đồng (tăng 50%), có 10 KTV hành nghề (tăng 43%), có 250 khách hàng kiểm toán BCTC (tăng 250%) trong đó có 10 KTV là đơn vị có lợi ích công chúng (tăng 100%)… trước 20/10/2015 như nói trên.

Các quy định này chỉ dành cho các công ty kiểm toán hiện nay đã đủ các điều kiện theo quy định trước 20/10/2015, hoặc công ty chỉ thiếu chút ít(10 -20 %) các điều kiện nói trên, may ra có thể phấn đấu đạt. Các công ty không đạt điều kiện quy định trước 20/10/2015 đồng nghĩa với việc sẽ mãi mãi không thể qua được cửa ải này trừ khi có mua bán và sáp nhập với công ty đã đủ điều kiện kiểm toán niêm yết.

Hãy nhớ rằng, qua phân tích ở các phần trên, tỷ lệ tăng cao nhất của bất kỳ chỉ tiêu cơ bản nào trong 5 năm vừa qua cũng chỉ tối đa là 25%.

  1. Cơ quan Nhà nước có xu hướng tăng cường quản lý trực tiếp mọi hoạt động KTĐL, giảm thiểu các hoạt động đã chuyển giao cho tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán

Tuy nhiên sau khi có Luật KTĐL, chỉ còn giao duy nhất 1 việc là tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và thực hiện CNKT cho KTV, nhưng đồng thời cũng cho phép các công ty kiểm toán đủ điều kiện tự CNKT và các cơ sở đào tạo khác được tổ chức CNKT và tổ chức ôn thi KTV. Vì thế, thực chất việc này cũng không phải giao cho VACPA.Năm 2006, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 47/2006/QĐ–BTC đã chuyển giao cho tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán một số hoạt động phù hợp với thông lệ quốc tế, như (1) Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và thực hiện cập nhật kiến thức cho KTV, (2) Quản lý danh sách kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán, (3) Xét điều kiện và công khai danh sách KTV và doanh nghiệp kiểm toán đủ điều kiện hành nghề, (4) Thực hiện kiểm tra chất lượng kiểm toán và (5) Tham gia tổ chức thi tuyển KTV.

Hai việc khác chỉ là phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện như: phối hợp thực hiện KSCL, tham gia tổ chức thi KTV theo từng việc được giao hàng năm.

Nhà nước đã thu lại toàn bộ hai việc là (2) Quản lý danh sách KTV hành nghề và (3) Xét điều kiện và công khai danh sách KTV và doanh nghiệp kiểm toán đủ điều kiện hành nghề.

Theo Luật KTĐL, Nhà nước có giao thêm cho VACPA một việc mới là tổ chức soạn thảo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam trình Bộ Tài chính ban hành. VACPA thực hiện phổ biến, triển khai và hướng dẫn thực hiện hệ thống CMKiT Việt Nam, và trong ba năm qua VACPA đã thực hiện thật xuất sắc trách nhiệm này. Tháng 12/2012 trình Bộ Tài chính ban hành 37 CMKiT mới của Việt Nam và sắp tới, tháng 9/2014 VACPA sẽ trình tiếp 10 CMKiT mới tiếp theo, dự kiến Bộ Tài chính sẽ ban hành trong năm 2014 này.

Cho dù có thay đổi chức năng theo quy định của pháp luật nhưng chúng ta hãy tin rằng VACPA đã có một lộ trình phát triển bền vững trong tương lai với nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự cân đối, phù hợp thông lệ quốc tế, vì mục tiêu: VACPA – Độc lập, Trung thực, Minh bạch và VACPA – Gia tăng giá trị Hội viên.

 (Nguồn: vacpa.org.vn)